COPD

Tin Tức Sức Khỏe

Thuật ngữ COPD được sử dụng ở Mỹ từ 1964, đến năm 1992 được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) sử dụng trong phân loại quốc tế các bệnh tật.

I..ĐẠI CƯƠNG

1.Định nghĩa

COPD: Chronic Obstrutive Pulmonatry Diease.

BPCO: Bronecho Pneumopathies Chroniques Obstructive

COPD là một bệnh phổ biến có thể phòng và điều trị được, đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở mạn tính, thường tiến triển nặng dần liên quan đến đáp ứng viêm mạn tính quá mức ở đường hô hấp và nhu mô phổi với các chất khí độc hại. Đợt cấp và các bệnh đồng mắc làm tăng mức độ nặng chung của bệnh ở mỗi bệnh nhân.

    2.Dịch tễ

2.1. Tần xuất bệnh

– Theo WHO, năm 1990 tỉ lệ mắc bệnh COPD trên toàn thế giới khoảng 9,34/1000 ở nam và 7,33/1000 nữ.

– Tỉ lệ mắc bệnh COPD cao nhất ở những nước đã và đang phát triển việc hút thuốc lá:

+ Châu Âu: 23 – 41% người hút thuốc lá, 2% người không hút thuốc lá bị COPD.

+ Pháp: 2,5 triệu người bị COPD (1994 Hucho G).

+ Mỹ: khoảng 23 – 20% ở nam giới, nam/nữ = 10/1.

– Trên thế giới bệnh COPD là nguyên nhân gây tử vong có tỉ lệ ngày càng gia tăng cao, năm 1990 đứng hàng thứ 6 với 2,2 triệu người chết: nam chiếm khoảng 6%, nữ chiếm khoảng 4%. Năm 1997 có khoảng 300 triệu người mắc bệnh và nguyên nhân tử vong xếp hàng thứ tư. Theo dự đoán của WHO số người mắc bệnh sẽ tăng 3 – 4 lần trong thập kỷ này, gây ra 2,9 triệu người chết mỗi năm và đến năm 2020 bệnh sẽ là nguyên nhân gây chết đứng hàng thứ 3.

– Một số nghiên cứu dịch tễ học bệnh COPD ở 12 nước khu vực Châu Á Thái bình dương nhận thấy tỉ lệ bệnh thấp nhất là 3,5% (Hồng Kông và Singapore) và cao nhất là 6,7% (Việt nam). Một nghiên cứu trên 5 thành phố lớn ở Châu Mỹ La tinh thấy tần xuất COPD thấp nhất là ở thành phố Mexico (18,4%), cao nhất ở thành phố Montevideo (32,1%).

2.2. Gánh nặng kinh tế xã hội:

– Ở cộng đồng Châu âu, chí phí trực tiếp cho các bệnh hô hấp chiếm khoảng 6% ngân sách cho y tế, trong đó COPD chiếm 56%. Ở Mỹ năm 2002 tổng chi phí lên tới 32,1 tỉ USD với chi phí trực tiếp là 18 tỉ và gián tiếp là 14,1 tỉ USD. Chi phí trực tiếp cho bệnh nhân COPD liên quan chủ yếu đến chi cho các đợt cấp, khám cấp cứu. Ở Anh, ngày nghỉ việc do bị bệnh, do di chứng tàn phế ước tính mất 24 triệu ngày làm việc.

  1. Các yếu tố nguy cơ

3.1. Gen: Yếu tố nguy cơ di truyền được ghi nhận rõ ràng nhất là sự thiếu hụt di truyền nghiêm trọng của anpha-1- antitrymotrypsin, chất ức chế chính của serine protease lưu hành trong máu

3.2. Tuổi và giới: tuổi cũng là yếu tố nguy cơ COPD, nhưng cũng không rõ do sự lão hóa dẫn đến COPD hay tuổi phản ánh tổng của phơi nhiễm tích lũy trong cuộc đời. Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh COPD và tỷ lệ tử vong do COPD ở nam giới cao hơn phụ nữ

3.3. Sự tăng trưởng và phát triển phổi: sự tăng trưởng của phổi liên quan đến quá trình phát triển trong giai đoạn bào thai, tất cả những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển này đều tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến bệnh COPD

3.4. Phơi nhiễm với các phần tử

– Hút thuốc là được xem là yếu tố nguy cơ phổ biến nhất của COPD

– Sự phơi nhiễm nghề nghiệp với các loại bụi hữu cơ, vô cơ, chất hóa học và khói cũng là yếu tố nguy cơ của COPD nhưng chưa được đánh giá đầy đủ

– Củ, gỗ, rơm rạ, than.. được đốt cháy trong lò kém chất lượng, gây ô nhiễm không khí trong nhà với mức thông hơi kém được cho là yếu tố nguy cơ quan trọng của COPD

– Ô nhiễm thành thị ở mức cao

3.5. Tình trạng kinh tế xã hội: đói nghèo là nguy cơ rõ ràng của bệnh COPD

3.6. Hen và/tăng tính phản ứng phế quản

3.7. Viêm phế quản mạn tính

3.8. Nhiễm trùng: tiền sử các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp từ nhỏ

  1. Cơ chế bệnh sinh
                                                                cơ chế bệnh sinh copd

Đặc điểm bệnh phổi mạn tính tắc nghẽn mạn tính là sự viêm nhiễm thường xuyên toàn bộ đưỡng dẫn khí và nhu mô. Xâm nhập đại thực bào, tế bào lympho T (chủ yếu là CD8) và bạch cầu đa nhân trung tính tăng. Các tế bào viêm giải phóng ra rất nhiều chất trung gian hoạt mạch gồm: Leukotrien B4 (LTB4), interleukin 8 (IL-8), yếu tố hoại tử u a (TNF-a) và các chất khác có khả năng phá huỷ cấu trúc của phổi và/hoặc duy trì tình trạng viêm tăng bạch cầu trung tính.

Hít phải khói bụi và các chất độc, hút thuốc lá có thể gây ra viêm cũng như phá huỷ cấu trúc phế quản và phổi. Tình trạng này sẽ dẫn đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Những thay đổi về mô bệnh học ở phổi dẫn đến những thay đổi về chức năng và hoạt động sinh lý của đường thở bao gồm như sau

– Sự tăng tiết nhày và dich rỉ viêm trong đường thở dẫn đến ho khạc đờm mạn tính

– Tắc nghẽn không hồi phục dòng khí thở ra do hiện tượng phù nề niêm mạc phế quản làm hẹp lòng đường thở, tăng sức cản đường thở và phá hủy vách phế nang tạo thành các bẫy khí

– Giãn phế nang và thay đổi về mạch mãu là giảm trao đổi khí tại phổi, gây ra tình trạng giảm oxy máu và sau đó là tăng CO2 máu, tăng áp lực động mạch phổi xuất hiện khí COPD ở giai đoạn muộn

  1. GIẢI PHẪU BỆNH:

Các thay đổi về mô bệnh học ở bệnh COPD được tìm thấy ở đường dẫn khí trung tâm, ngoại vi, nhu mô phổi và hệ thống mạch máu phổi.

Đường dẫn khí trung tâm: khí quản và những phế quản có đường kính bên trong lớn hơn 2mm có tình trạng xâm nhập tế bào viêm và bề mặt lớp biểu mô. Phì đại tuyến nhày và tăng số lượng tế bào có chân hình đài ở niêm mạc phế quản.

Đường dẫn khí ngoại vi: các phế quản nhỏ và tiểu phế quản có đường kính trong nhỏ hơn 2mm. Quá trình viêm mạn tính dẫn đến vòng xoắn tổn thương và phá huỷ thành phế quản. Quá trình phá huỷ này dẫn đến tái cấu trúc lại thành phế quản với tăng thành phần collagen và tổ chức sẹo, làm hẹp lòng và gây tắc nghẽn đường thở vĩnh viễn.

– Sự phá huỷ nhu mô phổi ở bệnh nhân COPD điển hình gây ra dãn phế nang ở trung tâm hoặc toàn bộ tiểu thuỳ, nó liên quan đến sự dãn và phá huỷ tiểu phế quản hô hấp.         Những tổn thương này hay xảy ra ở các thuỳ trên của phổi ở những trường hợp nhẹ. Sự mất cân bằng giữa men protêinase và antiproteinase trong phổi – do yếu tố bẩm sinh hoặc do hoạt động của các tế bào viêm và hoạt chất trung gian – là cơ chế chính gây phá huỷ phổi do giãn phế nang.

– Dày thành mạch trong bệnh COPD thường bắt đầu từ sớm của quá trình bị bệnh. Dày lên của nội mạch là thay đổi đầu tiên có thể đo được, sau đó là sự dày lên của lớp cơ trơn và xâm nhập tế bào viêm vào thành mạch. Khi tình trạng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngày càng xấu đi thì khối lượng cơ trơn, proteglycans và collagen thành mạch càng tăng do đó thành mạch càng dày lên.

II..TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG

  1. Triệu chứng lâm sàng

1.1. Triệu chứng cơ năng

Hầu hết các bệnh nhân vào viện đều là bệnh nhân nam trên 50 tuổi, lý do chủ yếu là khó thở và ho khạc đờm. Bệnh nhân có tiền sử phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ

– Khó thở: Tiến triển xấu theo thời gian, thường nặng lên khi gắng sức, tồn tại hàng ngày và triệu chứng này được mô tả bởi bệnh nhân như: khó thở khi gắng sức, nặng ngực, thiếu không khí

– Ho mạn tính: Có thể ho ngắt quãng, ho khan

– Khạc đờm mạn tính: Bất kỳ đặc điểm nào của khạc đờm mạn tính đều gợi ý COPD (giống kiểu tính chất của khạc đờm trong viêm phế quản mạn tính)

1.2. Triệu chứng thực thể

+ Toàn thân

– Khó thở: đa số bệnh nhân thở kiểu mím môi, khó thở mạn tính, phải sử dụng các cơ hô hấp phụ (cơ liên sườn, co kéo hõm trên ức, hố thượng đòn), có sử dụng nhóm cơ bụng khi thở ra (thở nghịch thường)

– Tím: Xuất hiện ở các bệnh nhân có suy hô hấp mạn tính hoặc từng đợt bùng phát phải nhập viện có suy hô hấp cấp tính.

– Bệnh nhân thường gày do tiêu cơ vân

– Trầm cảm

– Thiếu máu đẳng sắc

– Các triệu chứng có thể gợi ý mức độ nặng của COPD:

Giai đoạn I (COPD nhẹ): bệnh nhân thường chỉ có ho, khạc đờm mạn tính.

Giai đoạn II (COPD vừa): bệnh nhân thường khó thở kèm theo.

Giai đoạn III (COPD nặng): các triệu chứng tiếp tục tiến triển xấu đi.

Giai đoạn IV (COPD rất nặng): thường có triệu chứng của suy hô hấp mạn tính                                                                hoặc tâm phế mạn.

+ Khám cơ quan

– Phổi: Lồng ngực hình thùng ( đường kính trước sau tăng lên), rì rào phế nang giảm là triệu chứng chính, một số bệnh nhân có thấy ran rít, ran ngáy trong thì thở ra, gõ vang nhất là có giãn phế nang. Dấu hiệu Campbell( khí quản đi xuống trong thời kỳ hít vào) và dấu hiệu Hoover( giảm đường kính phần dưới lồng ngực khí hít vào)

– Tim: nhịp tim nhanh

1.3. Triệu chứng đợt cấp: bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng nặng hơn ngày thường và có sử dụng các thuốc giãn phế quản mà không đỡ

– Triệu chứng cơ năng: ho tăng lên, khó thở tăng lên, khạc đờm tăng/ thay đổi màu sắc của đờm ( đờm chuyển thành đờm nhày mủ). Có thể có sốt

– Khám thức thể: Khó thở, hội chứng nhiễm trùng, rối loạn tri giác, trầm cảm, giảm khả năng lao động. Có thể có suy hô hấp cấp. Nghe phổi có rì rào phế nang giảm, có thể có ran rít ran ngáy ran ẩm ran nổ. Khám tim có thể có các dấu hiệu của hội chứng suy tim phải

  1. Triệu chứng cận lâm sàng

2.1. Xquang phổi thường

– Hình ảnh của viêm phế quản mạn “phổi bẩn”

+ Tăng đậm các nhánh phế quản: dày thành phế quản từ 3-7mm

+ Viêm xung quanh phế quản: xuất hiện các nốt, bờ phế quản mạch máu lờ mờ.

+ Các mạch máu ở vùng cạnh tim tăng đậm.

– Hình ảnh dãn phế nang:

+ Lồng ngực dãn: trường phổi, 2 bên tăng sáng, vòm hoành bị hạ thấp và chúc xuống, xương sườn nằm ngang, tim hình giọt nước.

+ Mạch máu ngoại vi thưa thớt, bóng khí.

– Hình ảnh tăng áp lực động mạch phổi: cung động mạch phổi nổi, mạch máu ngoại vi thưa thớt. Tim không to hoặc hơi to, giai đoạn cuối tim to toàn bộ.

2.2. Chụp cắt lớp vi tính phổi

– Hình ảnh dãn phế nang: vùng sáng, không có mạch máu, bóng khí.

– Hình ảnh dầy thành phế quản: thường nhìn thấy ở phế quản phân thuỳ với hình ảnh đường ray hoặc hình tròn của diện cắt ngang.

2.3. Điện tâm đồ: Có thể bình thường ngay cả ở một số bệnh nhân nặng, một số trường hợp có thể thấy dấu hiệu của dày thất phải, nhĩ phải.

2.4. Thăm dò chức năng hô hấp

Để giúp phát hiện bệnh nhân trong giai đoạn sớm của bệnh thì nên tiến hành đo chức năng hô hấp cho tất cả bệnh nhân có ho và khạc đờm mạn tính mặc dù chưa có khó thở. Khi đo chức năng hô hấp cần đánh giá các thông số: Dung tích sống gắng sức (FVC), thể tích khí thở ra tối đa trong giây đầu tiên (FEV1). Tính các chỉ số Tiffneaux (FEV1/VC) và Gaensler (FEV1/FVC). Dựa vào các chỉ số FEV1 và Gaensler để đánh giá mức độ nặng của COPD.

– Đo thông khí phổi là xét nghiệm cơ bản trong COPD.

– Rối loạn thông khí trong COPD là rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục: Test phục hồi phế quản âm tính (test giãn phế quản): Cách làm test như sau: Đo FEV1 lần 1 rồi xịt hoặc khí dung 200mg Salbutamol cho bệnh nhân, sau 10-15 phút đo lại FEV1. Kết quả: FEV1 lần 2 tăng hơn so với lần 1: <15- 20% (200ml). Như vậy là test phục hồi phế quản âm tính, loại trừ được chẩn đoán hen phế quản (nếu FEV1/FVC sau test >70% thì chẩn đoán là hen phế quản)

– FEV1 giảm: < 80% so với tần số lý thuyết.

– Chỉ số Gaensleur (FEV1/FVC) > 70% so với tần số lý thuyết.

– Chỉ số Tiffeneau (FEV1/VC) < 70% so với tần số lý thuyết.

2.5. Thăm dò khí máu

– Theo AST (Hội lồng ngực Mỹ) khuyến cáo đo khí động mạch khi COPD ở giai đoạn II, III khi FEV1 < 50%: PaO2 giảm, PaCO2 tăng.

– Suy hô hấp cấp PaO2 < 60 mmHg, PaCO2 > 45 mmHg.

– Suy hô hấp mạn: PaO2: 60 – 70 mmHg, PaCO2 : 50 – 60 mmHg

– Đợt cấp suy hô hấp mạn: PaO2 giảm thêm 10 – 20 mm Hg, vẫn tăng PaCO2 song lúc này pH giảm.

– Khi SaO2 < 85% thường có tím tái.

– Cần thở oxy tại nhà khi có thiếu oxy trường diễn, PaO2 < 55%.

2.6. Siêu âm Doppler tim: Nhằm đánh giá tính trạng tăng áp lực động mạch phổi, giãn thất phải và suy tim trái phối hợp

Không có phản hồi

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin Tức Sức Khỏe
Thực hành tốt bản quản thuốc

Tầm quan trọng của chất lượng thuốc Thuốc là sản phẩm đặc biệt có liên quan trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng, là thành phần không thể thiếu trong các chính sách y tế quốc gia. Ý nghĩa của chất lượng thuốc: đem lại hiệu quả khi điều …

Tin Tức Sức Khỏe
Nguyên tắc sử dụng Vitamin và Chất khoáng

Vitamin là chất khoáng là những yếu tố cần thiết cho sức khỏe mỗi người, cũng giống như rau quả thịt cá, ngũ cốc… Đây là những hợp phần không thể thiếu được cho đời sống nhưng so với thực phâm và ngũ cốc thì số lượng cần thiết rất …

Tin Tức Sức Khỏe
CHOÁNG CHẤN THƯƠNG CẦN ĐẶC BIỆT COI TRỌNG

Choáng coi là một hội chứng lâm sàng được định nghĩa bởi lưu lượng máu không đầy đủ và sự vận chuyển oxy không đầy đủ đến các cơ quan và các mô. I. ĐẠI CƯƠNG Choáng cũng đã được định nghĩa như là một sự giảm lưu lượng máu …

Thuốc tebexerol immunoxel 500ml