viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là bệnh khớp mạn tính phổ biến, có cơ chế tự miễn dịch, tổn thương cơ bản tại màng hoạt dịch, bệnh biểu hiện bởi tình trạng khớp viêm mạn tính có xen kẽ các đợt tiến triển.

1. CƠ CHẾ BỆNH SINH

Nguyên nhân gây bệnh viêm khớp dạng thấp chưa rõ, hiện bệnh được coi là một bệnh tự miễn dịch với sự tham gia của nhiều yếu tố như nhiễm khuẩn hoặc di truyền. Kháng nguyên là các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể gây khởi phát một chuỗi các phản ứng miễn dịch, trong đó các tế bào lympho T đóng vai trò then chốt. Các tế bào lympho T, sau khi tiếp xúc  với  kháng  nguyên,  sẽ tập trung nhiều ở các khớp bị ảnh hưởng và giải phóng ra các cytokin.

Hậu quả của các quá trình này là hình thành màng máu màng hoạt dịch (pannus). Pannus tăng sinh và phì đại, xâm lấn sâu vào đầu xương dưới sụn gây nên các thương tổn thương bào mòn xương (erosion) và hủy khớp, dẫn đến tình trạng dính và biến dạng khớp. Hiện nay, dựa trên sự hiểu biết về cơ chế bệnh, các thuốc điều trị sinh học nhằm vào đích, ức chế từng loại tế bào, từng loại cytokin, do đó được coi là điều trị theo mục tiêu.

Các  yếu  tố  thuận lợi: nhiễm khuẩn (Epstein-Barr virus, Parvo virus… hoặc Mycoplasma, vi khuẩn đường ruột…); cơ địa (cơ thể suy yếu, chấn thương…), hoặc yếu tố môi trường (lạnh ẩm kéo dài); tuổi, giới (trên 40; nữ); tính chất gia đình, HLA- DR4…

2.  TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG

  1. Triệu chứng lâm sàng (Thường bệnh bắt đầu từ từ nhưng có 15% bắt đầu cấp tính)

1.1. Viêm khớp

– Giai đoạn khởi phát:

  • Thường bắt đầu bằng viêm một khớp, chủ yếu là các khớp nhỏ bàn tay.
  • Tính chất: sưng đau rõ, ngón tay thường có hình thoi, có dấu hiệu cứng khớp buổi sáng.
  • Bệnh diễn biến từ vài tuần đến vài tháng rồi chuyển sang giai đoạn toàn phát.

– Giai đoạn toàn phát:

  • Vị trí viêm: thường gặp ở các khớp cổ tay, khớp ngón gần, khớp bàn ngón, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn ngón chân, khớp khuỷu. Ngoài ra còn gặp các khớp khác như: háng, cột sống, hàm, ức đòn nhưng hiếm và nếu có thường ở giai đoạn muộn.
  • Tính chất viêm:       Đối xứng
    • Sưng phần mu tay hơn phần lòng bàn tay.
    • Sưng đau hạn chế vận động.
    • Có dấu hiệu cứng khớp buổi sáng.
    • Đau tăng nhiều về đêm.
  • Diễn biến: Các khớp viêm tiến triển tăng dần và nặng dần, phát triển thêm các khớp khác. Các khớp sẽ tiến triển đến dính và biến dạng, bàn ngón tay dính và biến dạng ở tư thế nửa co và lệch trục về phía xương trụ ( bàn tay gió thổi, ngón tay hình cổ cò ).

1.2. Toàn thân và ngoài khớp

– Toàn thân: gày sút, mệt mỏi, ăn uống kém, da xanh niêm mạc nhợt do thiếu máu,…

– Biểu hiện ngoài da:

  • Hạt dưới da: Hiếm gặp ( ở Việt nam chỉ gặp 5% ), đó là những hạt hay cục nổi lên khỏi mặt da, chắc, không di động, không đau, có kích thước từ 0,5 – 2cm, hay gặp quanh các khớp.
  • Da khô, teo, và xơ

– Cơ, gân, dây chằng và bao khớp

  • Teo cơ rõ rệt vùng quanh khớp tổn thương. Teo cơ là do không vận động.
  • Viêm gân, hay gặp là viêm gân Achille.
  • Dây chằng: phần lớn các trường hợp là viêm co kéo, nhưng có trường hợp làm giãn gây lỏng lẻo khớp.
  • Có thể gây thoát vị bao khớp tạo thành các kèn hoạt dịch, ở vùng khoe chân có tên là kén Baker.

– Nội tạng: Hiếm gặp trên lâm sàng trừ thể nặng.

  • Tim: tổn thương cơ tim kín đáo, viêm màng ngoài tim nhẹ, ít thấy tổn thương màng trong tim.
  • Phổi: viêm màng phổi nhẹ, xơ giãn phế nang.
  • Lách: lách to và giảm bạch cầu gặp trong hội chứng Felty.
  • Mắt: viêm giác mạc.
  • Thần kinh: viêm và xơ dính phần mềm quanh khớp có thể chèn ép vào dây thần kinh ngoại vi.
  1. Triệu chứng cận lâm sàng:

2.1. Xét nghiệm chung

– Công thức máu: hồng cầu giảm, nhược sắc.

– Tốc độ máu lắng tăng.

– Điện di protein: albumin giảm, globulin tăng.

2.2. Các xét nghiệm miễn dịch

–  Yếu tố dạng thấp RF (Rheumatoid Factor) huyết thanh: trước kia được gọi là phản ứng Waaler- Rose do mang tên hai tác giả đã phát hiện ra yếu tố dạng thấp bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu cừu. Hiện RF được định lượng bằng phương pháp đo độ đục, với nồng độ trên 14 IU/ml được coi là dương tính- là 1 trong 7 yếu tố thuộc tiêu chuẩn chẩn đoán do Hội Thấp khớp học Mỹ (American College of   Rheumatology- ACR) đề nghị năm 1987. Các kết quả nghiên cứu tại Việt nam cho thấy RF có độ nhạy dao động: 80%; độ đặc hiệu khoảng 88% và giá trị tiên đoán dương là 90 %; giá trị tiên đoán âm là 80%.  Việc định lượng được yếu tố dạng thấp cho phép tiên lượng, đặc biệt khi kết hợp với kháng thể kháng CCP.

–  Kháng thể kháng CCPGiá trị của kháng thể này là xuất hiện sớm, thậm chí trước khi có viêm khớp, và có giá trị tiên lượng viêm khớp dạng thấp. Với một bệnh nhân tại giai đoạn chưa đủ tiêu chuẩn xác định bệnh, sự có mặt đồng thời cả RF và Anti-CCP giúp tiên lượng về sự biểu hiện thành một viêm khớp dạng thấp thực sự trong tương lai. Xét nghiệm Anti-CCP và RF có độ nhạy  tương tự nhau, song những xét nghiệm anti-CCP có độ đặc hiệu cao (98% so với 88%, p < 0,01). Đặc biệt, sự có mặt của cả hai tự kháng thể này cho thấy bệnh nhân có nguy cơ xuất hiện tổn thương bào mòn xương trên X quang khớp cổ bàn tay sớm và trầm  trọng, bệnh diễn biến dai dẳng, không có đợt thuyên giảm, nhiều đợt tiến triển.

2.3. Chẩn đoán hình ảnh

 Hiện nay, với sự phát triển của kỹ thuật, siêu âm, cộng hưởng từ khớp tổn thương giúp phát hiện được các tổn thương ở giai đoạn sớm, đặc biệt đánh giá được cả mức độ viêm màng hoạt dịch.

– Cộng hưởng từ khớp tổn thương: Ngoài hình ảnh bào mòn, cộng hưởng từ còn phát  hiện đượng hiện tượng phù xương do hiện  tượng  viêm màng hoạt dịch gây xung huyết từng vùng của xương và sự xâm nhập của dịch rỉ viêm.

– Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh được áp dụng để đánh giá các tổn thương khớp  trong  bệnh  viêm  khớp  dạng  thấp trước  kia chỉ sử dụng X quang quy ước, song khi xuất hiện tổn thương thường đã ở giai đoạn muộn. Hình ảnh bào mòn xương (erosion) được coi là hình ảnh đặc trưng của bệnh, và là một trong tiêu chuẩn chẩn đoán ACR 1987.

  • Giai đoạn đầu: mất vôi đầu xương và cản quang ở phần mềm quanh khớp.
  • Giai đoạn sau là hình khuyết nhỏ hay bào mòn xương phàn tiếp giáp giữa sụn khớp và đầu xương, khe khớp hẹp do sụn khớp bị tổn thương.
  • Giai đoạn cuối là tình trạng sụn khớp và đầu xương gây dính và biến dạng khớp.

Hay chụp hai bàn tay với khối xương cá cổ tay, các khớp bàn ngón và ngón tay. Những dấu hiệu xquang ở đây thường xuất hiện sớm nhất:

  • Khe khớp giữa các xương cá hẹp và mờ, sau dần dính vào một khối.
  • Đầu xương bàn tay và ngón tay xuất hiện các khuyết, khe khớp hẹp rồi dính khớp.

– Siêu âm khớp tổn thương với đầu dò tần số thấp (từ 5- 10 MHz): Siêu âm phát hiện dễ dàng tình trạng viêm màng hoạt dịch, dịch khớp (trong đợt tiến triển) và hình ảnh bào mòn xương sớm và chính xác.

– Nội soi khớp tổn thương: hiện sử dụng nhiều nhất với khớp gối. Ngoài khả năng chẩn đoán, (đặc biệt có vai trò quan trọng trong viêm khớp dạng thấp thể một khớp) qua hình ảnh nội soi và mô bệnh học, đánh giá tổn thương (mức độ viêm  màng  hoạt dịch, mức độ hủy sụn, tổn  thương  dây  chằng…) nội soi còn là một biện pháp điều trị qua việc loại bỏ các yếu tố viêm tại chỗ, các mảnh sụn, mảnh tổ chức hoại tử.

Không có phản hồi

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin Tức Sức Khỏe
Thực hành tốt bản quản thuốc

Tầm quan trọng của chất lượng thuốc Thuốc là sản phẩm đặc biệt có liên quan trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng, là thành phần không thể thiếu trong các chính sách y tế quốc gia. Ý nghĩa của chất lượng thuốc: đem lại hiệu quả khi điều …

Tin Tức Sức Khỏe
Nguyên tắc sử dụng Vitamin và Chất khoáng

Vitamin là chất khoáng là những yếu tố cần thiết cho sức khỏe mỗi người, cũng giống như rau quả thịt cá, ngũ cốc… Đây là những hợp phần không thể thiếu được cho đời sống nhưng so với thực phâm và ngũ cốc thì số lượng cần thiết rất …

Tin Tức Sức Khỏe
CHOÁNG CHẤN THƯƠNG CẦN ĐẶC BIỆT COI TRỌNG

Choáng coi là một hội chứng lâm sàng được định nghĩa bởi lưu lượng máu không đầy đủ và sự vận chuyển oxy không đầy đủ đến các cơ quan và các mô. I. ĐẠI CƯƠNG Choáng cũng đã được định nghĩa như là một sự giảm lưu lượng máu …

Thuốc tebexerol immunoxel 500ml